
Nỗi "hồi hộp" trong phòng Cathlab: Từ bản lĩnh bác sĩ đến sự trợ giúp của AI
Hôm nay đúng kỷ niệm 30 năm tôi khoác "áo chì" vào phòng can thiệp (cathlab). Số lượng ca can thiệp đã làm tính đến nay chắc lên đến con số hàng chục nghìn hoặc hơn nữa, vì tôi không có thói quen đếm hay ghi sổ. Vậy nhưng tôi vẫn cảm giác hồi hộp trước mỗi ca phức tạp.
Sáng dậy, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là có bao nhiêu trường hợp khó đang đợi mình hôm nay, nên đa phần bữa sáng của tôi sẽ bị bỏ quên. Đến viện, tôi thường cố thu xếp những việc khác thật nhanh và luôn có mặt rất sớm ở phòng can thiệp. Như hôm nay, tôi đến chỉ sau chị lao công đến mở cửa, bật đèn.
Ca bệnh đầu tiên là cụ ông lớn tuổi cần thay van động mạch chủ qua da, hồi hộp vì động mạch vành trái hẹp ngay thân chung và xuất phát rất thấp. Vậy nhưng chưa kịp thở phào khi kết thúc ca bệnh, tim tôi lại hồi hộp lần nữa vì cháu bé Myanmar 6 tuổi tiếp theo chỉ 11kg mà lỗ thông lên đến 24mm. Rồi ca thứ 3, thứ 4 nữa hồi hộp vẫn chưa bao giờ biến mất bởi vì trong các phương án vẫn còn tồn tại hai chữ THẤT BẠI, dù tỷ lệ là rất nhỏ.
Bác sĩ càng nhiều kinh nghiệm càng hiểu rõ một ca mổ không bao giờ có 100% an toàn. Sự hồi hộp đó chắc không phải là thiếu tự tin, mà là hệ thần kinh giao cảm đang chuyển sang trạng thái tỉnh thức cao độ, tim đập nhanh hơn, sự tập trung hẹp lại vào một hướng duy nhất... Đó chính là do adrenaline được tiết nhiều hơn ạ. Theo quy luật Yerkes-Dodson, hiệu suất làm việc tốt nhất ở mức kích hoạt vừa phải, không phải lúc thờ ơ.
Hồi hộp với tôi là tốt, mặc dù chính bản thân tôi cũng ghét cảm giác này. Nó ngăn thói quen làm ẩu và buộc tôi kiểm tra lại từng bước. Lo lắng lành mạnh khiến bác sĩ xem lại phim chụp, dự trù phương án B dự phòng, gọi thêm hỗ trợ hoặc đơn giản chuẩn bị dư dả "đồ nghề" của mình. Mỗi người bệnh dù có tổn thương bệnh lý giống hệt nhau, nhưng chắc chắn không thể không có sự khác biệt, và chúng tôi được dạy để “chữa người”chứ không phải “chữa bệnh”.
Vậy khi nào hồi hộp trở thành xấu? Theo tôi đó là khi hồi hộp vượt quá mức sẽ chuyển thành lo âu bệnh lý: tay run không kiểm soát, đầu óc trắng xóa, quyết định chậm hoặc né tránh, mất ngủ kéo dài. Và hậu quả cuối cùng là kiệt sức sau một thời gian hồi hộp.
Với bác sĩ lớn tuổi, cơ thể nhạy hơn với adrenaline, nên hồi hộp có thể rõ hơn. Nhưng kinh nghiệm giúp họ biến nó thành nghi thức: hít thở, kiểm tra danh mục “đồ nghề”, trao đổi ngắn với ê kíp.
Nếu bạn thấy vị bác sĩ đó hồi hộp nhưng tay vẫn vững, nói rõ ràng, và ê kíp của họ bình tĩnh, đó chính là kiểu hồi hộp bạn nên mong muốn.
Khi có biến chứng xảy ra, chắc chắn vị trưởng kịp phải hồi hộp. Nhưng sẽ là tốt nếu bác sĩ nói về rủi ro cụ thể của ca này, chuẩn bị phương án B, và ê kíp xung quanh vẫn phối hợp nhịp nhàng.
Tín hiệu không tốt khi bác sĩ bắt đầu luống cuống, lặp lại lời trấn an chung chung, ít nhìn vào mắt, hoặc ê kíp bắt đầu nói quá to, lộn xộn, chạy đi chạy lại...
Nếu bạn là bác sĩ và thấy mình rơi vào vùng xấu thường xuyên, đó là tín hiệu cần nghỉ, tập thở, mô phỏng lại ca mổ, và nói chuyện với đồng nghiệp senior, không nên cố chịu đựng.
Còn nếu là người nhà bệnh nhân, trong tình huống ấy tuyệt đối không nên "đổ dầu vào lửa". Hãy lắng nghe, thậm chí động viên ê kíp.
Nếu phương án B chưa thật rõ ràng, hãy cùng nhau phân tích ca bệnh. "Gọi viện binh" và "đổi tay" là 2 cụm từ rất hay được sử dụng trong ngành y kể từ khi nó ra đời chính là để triệt tiêu cái hồi hộp xấu đó. Ngày nay còn thêm một phương án nữa đó là Telehealth - y học từ xa. Rất nhiều tình huống phức tạp đã được cứu chữa thành công nhớ hội chẩn ngay trong cuộc phẫu thuật can thiệp, thậm chí Robot, AI cũng đã tham gia tích cực vào quá trình chống "hồi hộp" này.
(AloBacsi Academy đăng lại nguyên văn)




















