
Học phí bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa theo dự thảo mới
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất trong dự thảo Thông tư hướng dẫn xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo cấp văn bằng bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa là vấn đề học phí. Nếu dự thảo được ban hành theo hướng hiện nay, học phí đào tạo bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa có thể tăng rất đáng kể so với mặt bằng đào tạo CKI, CKII trước đây.
Đây không chỉ là câu chuyện tài chính của từng bác sĩ trẻ. Đây là câu chuyện lớn hơn: ai sẽ có khả năng đi học chuyên khoa, bệnh viện tuyến tỉnh có giữ được nhân lực hay không, ngành y có đào tạo đủ bác sĩ chuyên khoa cho các chuyên ngành thiếu hụt hay không, và Nhà nước có cần cơ chế đặt hàng – học bổng – hỗ trợ đào tạo hay không.
1. Công thức học phí trong dự thảo
Theo dự thảo, học phí đào tạo bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa tại cơ sở giáo dục đại học công lập theo hình thức chính quy tập trung toàn thời gian được xác định bằng:
Mức trần học phí đào tạo đại học × 2,5
Đối với bác sĩ chuyên khoa theo hình thức vừa làm vừa học, mức thu được xác định trên cơ sở chi phí hợp lý, nhưng không vượt quá 150% mức thu của hệ chính quy tập trung toàn thời gian cùng chuyên ngành
Nói cách khác, dự thảo đang đưa đào tạo BSNT và BSCK vào nhóm đào tạo sau đại học chuyên sâu có chi phí cao, gần với logic “đào tạo chuyên gia hành nghề” hơn là đào tạo sau đại học truyền thống.
2. Mức trần học phí đại học nhóm sức khỏe hiện nay
Theo mức trần năm học 2026–2027, nhóm sức khỏe được chia làm hai nhóm chính:
Nhóm điều dưỡng, hộ sinh, dinh dưỡng, răng hàm mặt, kỹ thuật y học, y tế công cộng, quản lý y tế và nhóm khác: 2,66 triệu đồng/người học/tháng.
Nhóm dược học, y học: 3,50 triệu đồng/người học/tháng.
Vì dự thảo lấy mức trần đại học nhân hệ số 2,5, nên học phí BSNT/BSCK chính quy tập trung có thể được tạm tính như sau.
3. Tạm tính học phí BSNT/BSCK chính quy ở cơ sở công lập chưa tự chủ cao
Nhóm y học, dược học
Công thức: 3,50 triệu × 2,5 = 8,75 triệu đồng/tháng
Nếu tính 10 tháng/năm học:
* 1 năm: khoảng 87,5 triệu đồng
* 3 năm: khoảng 262,5 triệu đồng
Đây có thể là mức sàn tham khảo đối với cơ sở công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, nếu lấy mốc năm học 2026–2027 để tạm tính.
Nhóm răng hàm mặt, kỹ thuật y học, y tế công cộng, điều dưỡng, hộ sinh, dinh dưỡng
Công thức: 2,66 triệu × 2,5 = 6,65 triệu đồng/tháng
Nếu tính 10 tháng/năm học:
* 1 năm: khoảng 66,5 triệu đồng
* 3 năm: khoảng 199,5 triệu đồng
Như vậy, ngay cả ở mức cơ sở công lập chưa tự chủ cao, học phí toàn khóa BSNT/BSCK chính quy có thể dao động khoảng 200–263 triệu đồng cho chương trình 3 năm, tùy nhóm ngành.
4. Nếu trường công lập tự chủ tài chính, học phí có thể cao hơn nhiều
Nghị định về học phí cho phép cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được thu tối đa bằng 2 lần mức trần; cơ sở tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư được thu tối đa bằng 2,5 lần mức trần.
Nếu áp dụng tiếp công thức của dự thảo, mức học phí BSNT/BSCK có thể như sau.
Nhóm y học, dược học
Loại cơ sở đào tạo Tạm tính/tháng Tạm tính/năm học 10 tháng Tạm tính 3 năm
Chưa tự bảo đảm chi thường xuyên 8,75 triệu 87,5 triệu 262,5 triệu
Tự bảo đảm chi thường xuyên 17,5 triệu 175 triệu 525 triệu
Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư 21,875 triệu 218,75 triệu 656,25 triệu
Nhóm RHM, kỹ thuật y học, y tế công cộng, điều dưỡng, hộ sinh, dinh dưỡng
Loại cơ sở đào tạo Tạm tính/tháng Tạm tính/năm học 10 tháng Tạm tính 3 năm
Chưa tự bảo đảm chi thường xuyên 6,65 triệu 66,5 triệu 199,5 triệu
Tự bảo đảm chi thường xuyên 13,3 triệu 133 triệu 399 triệu
Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư 16,625 triệu 166,25 triệu 498,75 triệu
Các con số trên chỉ là ước tính kỹ thuật. Học phí thực tế còn phụ thuộc vào quyết định của từng trường, mức độ tự chủ, kiểm định chất lượng chương trình, phương thức thu theo tháng, theo học kỳ hay theo tín chỉ.
5. BSCK vừa làm vừa học có thể là gánh nặng lớn hơn
Dự thảo cho phép BSCK vừa làm vừa học có mức thu không vượt quá 150% mức chính quy tập trung cùng chuyên ngành.
Ví dụ với nhóm y học tại cơ sở công lập chưa tự chủ cao:
Chính quy tập trung: khoảng 8,75 triệu đồng/tháng
Vừa làm vừa học tối đa: khoảng 13,125 triệu đồng/tháng
Vấn đề là thời gian vừa làm vừa học dài hơn. Dự thảo quy định thời gian đào tạo vừa làm vừa học tối thiểu bằng 1,5 lần và tối đa không quá 2 lần thời gian chính quy. Nếu chính quy là 3 năm, vừa làm vừa học có thể kéo dài khoảng 4,5–6 năm.
Vì vậy, dù người học vẫn có thu nhập khi vừa làm vừa học, tổng chi phí toàn khóa có thể rất lớn nếu nhà trường thu học phí theo thời gian học kéo dài. Đây là điểm cần được quy định rõ hơn để tránh tình trạng học phí trở thành rào cản cho bác sĩ tuyến tỉnh, tuyến huyện.
6. So sánh với Thạc sĩ và Tiến sĩ
Theo quy định học phí giáo dục đại học hiện hành, học phí thạc sĩ được xác định bằng 1,5 lần mức trần đại học, còn tiến sĩ bằng 2,5 lần mức trần đại học.
Nếu dự thảo giữ nguyên công thức BSNT/BSCK bằng 2,5 lần mức trần đại học, thì học phí BSNT/BSCK chính quy sẽ gần tương đương hệ số học phí của đào tạo tiến sĩ, chứ không phải thạc sĩ.
Điều này phản ánh quan điểm mới: BSNT/BSCK không chỉ là học sau đại học thông thường, mà là đào tạo chuyên gia thực hành lâm sàng, đòi hỏi bệnh viện thực hành, giảng viên chuyên khoa, ca bệnh thật, trực lâm sàng, mô phỏng, đánh giá năng lực và bảo đảm chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên, nếu học phí cao nhưng không đi kèm học bổng, hỗ trợ bệnh viện, đặt hàng đào tạo, cam kết sử dụng sau đào tạo thì sẽ tạo ra rào cản lớn cho người học.
7. Các chuyên ngành được Nhà nước hỗ trợ học phí
Luật Khám bệnh, chữa bệnh hiện hành quy định Nhà nước hỗ trợ toàn bộ học phí và chi phí sinh hoạt cho người học một số chuyên ngành đặc thù, gồm:
Tâm thần
Giải phẫu bệnh
Pháp y
Pháp y tâm thần
Truyền nhiễm
Hồi sức cấp cứu
Đây là nhóm chuyên ngành khó tuyển, thiếu nhân lực, áp lực nghề nghiệp cao nhưng rất cần cho hệ thống y tế. Dự thảo cũng tiếp tục dẫn chiếu chính sách hỗ trợ học phí đối với các chuyên ngành được Nhà nước hỗ trợ theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Điều này rất quan trọng. Nếu học phí BSNT/BSCK tăng cao, chính sách hỗ trợ cho các chuyên ngành thiếu nhân lực càng cần được thực hiện thực chất, minh bạch và kịp thời.
8. Tác động đối với bác sĩ trẻ
Nếu học phí tăng theo dự thảo, bác sĩ trẻ sẽ phải cân nhắc rất kỹ trước khi chọn đường học:
Học BSNT: có giá trị chuyên môn cao, nhưng chi phí và cơ hội việc làm sau học phải được tính trước.
Học BSCK chính quy: phù hợp với người muốn đi sâu hành nghề chuyên khoa, nhưng cần nguồn tài chính ổn định.
Học BSCK vừa làm vừa học: giữ được thu nhập, nhưng thời gian kéo dài và tổng chi phí có thể cao.
Học Thạc sĩ: phù hợp hơn với nghiên cứu, giảng dạy, học thuật, quản lý chuyên môn.
Học chuyên khoa sâu: có thể là bước tiếp theo sau BSNT hoặc BSCK, nhất là với kỹ thuật cao.
Một bác sĩ trẻ không nên chọn chương trình học chỉ vì “bằng nào cao hơn”. Câu hỏi đúng phải là: mục tiêu của mình là hành nghề chuyên khoa, làm kỹ thuật cao, nghiên cứu – giảng dạy hay thăng tiến quản lý?
9. Tác động đối với bệnh viện
Với bệnh viện công, đặc biệt là bệnh viện tỉnh, học phí BSNT/BSCK tăng cao sẽ tạo ra ba vấn đề lớn.
Thứ nhất, bác sĩ trẻ giỏi có thể ngại đi học vì chi phí quá lớn.
Thứ hai, bệnh viện muốn phát triển chuyên khoa sâu nhưng không có quỹ đào tạo sẽ khó cử người đi học.
Thứ ba, nếu không có chính sách ràng buộc sau đào tạo, bác sĩ được hỗ trợ học phí có thể chuyển nơi làm việc sau khi hoàn thành chương trình, gây thất thoát đầu tư nhân lực.
Do đó, bệnh viện cần chuẩn bị sớm các cơ chế:
Quỹ phát triển nhân lực chuyên khoa.
Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ học phí cho chuyên ngành bệnh viện cần.
Hợp đồng cam kết phục vụ sau đào tạo.
Ưu tiên đào tạo theo quy hoạch chuyên khoa.
Liên kết với trường đại học y để đào tạo tại cơ sở thực hành.
Minh bạch tiêu chí chọn người đi học.
Đào tạo bác sĩ chuyên khoa không thể để từng cá nhân tự bơi. Đây phải là chiến lược phát triển nhân lực của bệnh viện.
10. Cần góp ý gì cho dự thảo?
Dự thảo cần được góp ý theo hướng bảo đảm chất lượng đào tạo nhưng không tạo rào cản tài chính quá lớn.
Một số nội dung nên kiến nghị:
Thứ nhất, cần làm rõ học phí tính theo năm học, học kỳ, tín chỉ hay toàn khóa.
Thứ hai, cần quy định rõ nguyên tắc thu học phí đối với BSCK vừa làm vừa học để tránh tổng chi phí toàn khóa tăng quá cao do thời gian kéo dài.
Thứ ba, cần có cơ chế học bổng, đặt hàng đào tạo, hỗ trợ học phí cho chuyên ngành thiếu nhân lực.
Thứ tư, cần cho phép bệnh viện công sử dụng nguồn thu hợp pháp, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc kinh phí đào tạo để hỗ trợ bác sĩ đi học theo quy hoạch nhân lực.
Thứ năm, cần có chính sách ưu tiên cho bác sĩ đang công tác tại vùng khó khăn, tuyến tỉnh, tuyến huyện, chuyên ngành thiếu nhân lực.
Thứ sáu, cần công khai học phí toàn khóa ngay từ thông báo tuyển sinh, không chỉ công khai học phí từng năm.
11. Nhận định
Nếu dự thảo được giữ nguyên, học phí BSNT/BSCK có thể trở thành một trong những thay đổi lớn nhất của hệ đào tạo sau đại học ngành y. Mức học phí mới có thể giúp các trường có nguồn lực tốt hơn để tổ chức đào tạo chất lượng cao, nhưng cũng có nguy cơ làm giảm cơ hội học chuyên khoa của nhiều bác sĩ trẻ nếu thiếu cơ chế hỗ trợ.
Đào tạo bác sĩ chuyên khoa là đầu tư cho hệ thống y tế, không chỉ là dịch vụ giáo dục thuần túy. Nếu bắt người học gánh toàn bộ chi phí, chúng ta có thể có chương trình đẹp trên giấy nhưng thiếu người học ở những chuyên ngành xã hội cần nhất.
12. Kết luận
Học phí BSNT/BSCK theo dự thảo có thể dao động từ khoảng 200–263 triệu đồng cho toàn khóa 3 năm ở mức cơ sở công lập chưa tự chủ cao; và có thể lên đến khoảng 500–650 triệu đồng hoặc hơn ở cơ sở công lập tự chủ cao, tùy nhóm ngành và cách tính học phí.
Đối với BSCK vừa làm vừa học, chi phí có thể còn phức tạp hơn vì thời gian đào tạo dài hơn và mức thu có thể lên đến 150% hệ chính quy.
Vì vậy, bác sĩ trẻ cần tính kỹ trước khi chọn chương trình học. Bệnh viện cần có kế hoạch hỗ trợ đào tạo. Cơ quan quản lý cần có chính sách học bổng, đặt hàng và bảo vệ các chuyên ngành thiếu nhân lực.
Học phí cao không hẳn là xấu nếu chất lượng đào tạo thật sự cao, giảng viên tốt, bệnh viện thực hành mạnh và chuẩn đầu ra rõ ràng. Nhưng học phí cao sẽ trở thành rào cản nguy hiểm nếu không có cơ chế hỗ trợ. Muốn có bác sĩ chuyên khoa giỏi, không thể chỉ yêu cầu họ tự hy sinh. Phải xem đào tạo chuyên khoa là khoản đầu tư chiến lược của quốc gia, của bệnh viện và của toàn hệ thống y tế.
Một điểm cần nhấn mạnh thêm: từ năm học 2027–2028 trở đi, mức trần học phí được điều chỉnh nhưng tối đa không vượt quá tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ; cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên có thể thu tối đa 2 lần mức trần, còn cơ sở tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư có thể thu tối đa 2,5 lần mức trần.
Với các chuyên ngành thiếu nhân lực như Tâm thần, Giải phẫu bệnh, Pháp y, Pháp y tâm thần, Truyền nhiễm, Hồi sức cấp cứu, Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định Nhà nước hỗ trợ toàn bộ học phí và chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học nếu học tại cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe của Nhà nước. Bộ Y tế cũng đã trả lời rõ nhóm học viên sau đại học gồm ThS, TS, CKI, CKII, BSNT ở các chuyên ngành này thuộc diện được Nhà nước hỗ trợ học phí và chi phí sinh hoạt.

BS.CK2 Huỳnh Thanh Hữu
Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Long




















