Bài giảng mới nhất
Tê bì tay chân, mất cảm giác ở bệnh nhân đái tháo đường
Tê bì tay chân ở người bệnh đái tháo đường không phải lúc nào cũng giống nhau, không phải trường hợp nào cũng do đái tháo đường và đặc biệt, mất cảm giác đôi khi còn nguy hiểm hơn đau.
Phụ nữ có bệnh tuyến giáp có dùng được liệu pháp hormon mãn kinh không?
Bài viết của TS.BS Nguyễn Quang Bảy, trưởng khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai
Công nghệ theo dõi đường huyết liên tục (CGM) một giải pháp hiện đại trong quản lý bệnh đái tháo đường
Với mong muốn cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh đái tháo đường, các công ty công nghệ đã không ngừng nghiên cứu và phát triển những thiết bị theo dõi đường huyết không đau và dễ sử dụng. Hệ thống công nghệ theo dõi đường huyết liên tục (CGM) hiện đại bao gồm ba thành phần chính: cảm biến (sensor), bộ truyền dữ liệu (transmitter), thiết bị nhận và hiển thị kết quả đường huyết. Bài viết của BS. Nguyễn Duy Tân – Khoa Nội tiết, BV Nhân dân 115 nói rõ về kỹ thuật này.
Điều trị rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2: Liệu có thể dùng thuốc Statin cách ngày?
Ở người đái tháo đường típ 2, statin không chỉ là thuốc hạ cholesterol mà còn là một trong bốn trụ cột điều trị giúp phòng ngừa biến cố tim mạch và giảm nguy cơ tử vong. Vì sao ADA 2026 khuyến cáo sử dụng statin hằng ngày và những ai cần điều trị? Cùng tìm hiểu những điểm quan trọng trong khuyến cáo mới nhất qua bài viết của TS.BS Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa Nội tiết - Đái tháo đường tại Bệnh viện Bạch Mai.
Đường huyết lúc đói đẹp, HbA1c vẫn cao: Đừng bỏ qua "kẻ giấu mặt" là dao động đường huyết
Đường huyết lúc đói bình thường hay HbA1c đạt mục tiêu chưa đồng nghĩa kiểm soát đái tháo đường tốt. Dao động đường huyết và những đỉnh tăng sau ăn, cơn hạ đường huyết âm thầm có thể làm tăng nguy cơ biến chứng nếu không được phát hiện và theo dõi đúng cách. Đó là thông điệp của BS.CK2 Dương Minh Tuấn, hiện là bác sĩ giàu kinh nghiệm công tác tại Khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai.
LDL-C càng thấp càng tốt? Cập nhật quan trọng từ hướng dẫn năm 2026
Trong phòng ngừa bệnh tim mạch, “nằm trong giới hạn bình thường” không đồng nghĩa với “đã đạt mục tiêu điều trị”. Một mức LDL-C có thể chấp nhận được đối với người trẻ, chưa có yếu tố nguy cơ nhưng lại còn quá cao đối với người đã từng nhồi máu cơ tim, đột quỵ, mắc bệnh động mạch ngoại biên, đái tháo đường có nhiều yếu tố nguy cơ hoặc bệnh thận mạn.
Thuốc GLP-1 RA có thực sự an toàn cho mắt bệnh nhân đái tháo đường ?
Phiên hội thảo với chủ đề "Các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 có an toàn đối với mắt không?" tại Hội nghị Khoa học của Hôi Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2026 ở New Orleans cho những thông tin hữu ích
Kiểm soát đường huyết quá nhanh có thể làm nặng thêm biến chứng đái tháo đường
Mặc dù kiểm soát glucose tích cực là nền tảng để phòng ngừa các biến chứng vi mạch lâu dài của ĐTĐ, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc giảm glucose máu quá nhanh ở những BN tăng glucose kéo dài lại có thể gây "early worsening" (xấu đi sớm) của bệnh võng mạc và gây bệnh thần kinh do điều trị (Treatment-induced neuropathy of diabetes - TIND). Đây là hiện tượng nghịch lý đã được ghi nhận từ hơn 40 năm nay.
Bệnh nhân tiền đái tháo đường nào cần điều trị?
1. Tiền đái tháo đường (ĐTĐ) là gì ?• Tiền đái tháo đường (prediabetes) bao gồm (1) tăng glucose máu lúc đói > 5,6 mmol/L; (2) tăng HBA1C > 5,7% và (3) rối loạn dung nạp glucose, glucose máu sau 2h làm nghiệm pháp dung nạp glucose từ 7,8 – 11,0 mmol/L.• Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế khuyến cáo những BN tiền ĐTĐ cần được điều trị để ngăn ngừa nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ típ 2. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy những người bị tiền ĐTĐ khác nhau đáng kể về cơ chế bệnh sinh nền tảng cũng như nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ típ 2. Nói cách khác, tiền ĐTĐ không phải là một bệnh cảnh đồng nhất mà là một trạng thái nguy cơ không đồng nhất.2. Ba phân nhóm tiền ĐTĐ nguy cơ cao: Các phân tích dựa trên dữ liệu lớn cho thấy có thể phân biệt 6 kiểu hình chuyển hóa của tiền ĐTĐ dựa trên độ nhạy insulin, khả năng tiết insulin, mỡ gan, phân bố mỡ nội tạng và nguy cơ di truyền mắc ĐTĐ típ 2. Trong đó 3 phân nhóm có nguy cơ đặc biệt cao là:• Tiền ĐTĐ kèm gan nhiễm mỡ và kháng insulin nặng có nguy cơ rất cao tiến triển nhanh thành ĐTĐ típ 2. Gan nhiễm mỡ không chỉ là dấu ấn mà còn là yếu tố thúc đẩy suy giảm chuyển hóa.• Tiền ĐTĐ do rối loạn chức năng tế bào beta với suy giảm chức năng tiết insulin là cơ chế chính. Những BN này có thể cần chiến lược dự phòng dài hạn khác với nhóm chủ yếu bị béo phì, gan nhiễm mỡ và kháng insulin.• Nhóm tiến triển chậm với tăng insulin máu do kháng insulin, thường chỉ phát triển thành ĐTĐ ở giai đoạn muộn, tuy nhiên xuất hiện tổn thương cơ quan đích, đặc biệt là thận từ sớm và có nguy cơ tử vong sớm cao hơn.3. Điều trị tiền ĐTĐ:• Can thiệp lối sống vẫn luôn là nền tảng trong điều trị tiền ĐTĐ, tuy nhiên khả năng duy trì lâu dài các chương trình thay đổi lối sống còn hạn chế. Nghiên cứu DPP là ví dụ điển hình cho thấy mức độ tuân thủ các chương trình thay đổi hành vi để giảm cân bị giảm dần theo thời gian. Vì vậy, nhiều người sẽ cần sử dụng thuốc để dự phòng ĐTĐ.• Các thuốc điều trị tiền ĐTĐ gồm Metformin (có hiệu quả tốt nhưng chưa chứng minh được tác dụng làm giảm biến chứng và tử vong, đồng vận thụ thể GLP-1 và đồng vận kép GLP-1/GIP (Semaglutide và tirzepatide cho hiệu quả tốt trong việc đưa đường huyết về bình thường và ngăn ngừa tiến triển thành T2D, nhưng hiệu quả giảm sau khi ngừng thuốc), và ức chế SGLT-2 như là một lựa chọn tiềm năng ở BN tiền ĐTĐ có bệnh thận mạn hoặc suy tim.




















